QĐND - Các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta đã sản sinh ra đội ngũ nhà văn mang áo lính hùng hậu. Năm 2000, bộ sách "Tổng tập Nhà văn quân đội, kỷ yếu và tác phẩm" đã xuất bản. Khoảng 300 nhà văn chiến sĩ được tập hợp trong ấn phẩm đồ sộ này với lời giới thiệu trân trọng: Đội ngũ những người cầm bút trong quân đội, nếu được tập hợp lại đã có thể thành một binh đoàn. Đây là một binh đoàn chủ lực tinh nhuệ đặc biệt, cùng với các loại hình nghệ thuật khác đã làm nên sức mạnh tinh thần hào hùng trong suốt nửa thế kỷ qua... Văn học nghệ thuật đã thành đời sống tinh thần không thể thiếu được của nhân dân và của những người lính... Điều đáng tự hào và cũng khá độc đáo là có không ít tác giả quen thuộc, nổi tiếng hiện nay vốn trưởng thành từ những "nhà văn đại đội".
| Ai đã từng vào lính chắc không quên được các hoạt động văn hóa văn nghệ trong bộ đội. Thời chiến tranh, khắp nơi rộ lên phong trào "Tiếng hát át tiếng bom". Những ca khúc, bài thơ tha thiết lòng yêu quê hương đất nước, hừng hực khí thế tiến công đã cổ vũ bộ đội và nhân dân vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Chả thế mà vào những ngày khốc liệt nhất trên Trường Sơn thời chống Mỹ, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã ung dung viết: Thế đấy, giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ. Có những bài hát, bài thơ hay thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vẫn còn tràn đầy sức sống và tỏa sáng đến hôm nay. Không chỉ thế hệ Bộ đội Cụ Hồ và những ai kinh qua thời khói lửa ấy còn nhớ, còn hát, còn đọc, ngâm các ca khúc và thi phẩm nổi tiếng như Người Hà Nội, Làng tôi, Đồng chí, Bên kia sông Đuống, Thăm lúa, Đèo cả, Màu tím hoa sim, Nhớ, Nhớ máu... (thời chống Pháp); Tình ca, Xa khơi, Trước ngày hội bắn, Câu hò bên bờ Hiền Lương, Bài ca hy vọng, Quảng Bình quê ta ơi, Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Cuộc chia ly màu đỏ, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong, Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Nấm mộ và cây trầm, Cây xấu hổ, Khoảng trời hố bom... (thời chống Mỹ) mà khá nhiều bạn trẻ bây giờ yêu thích. Chắc chúng ta đã biết, không ít tác giả làm nên những ca khúc và thi phẩm nổi tiếng từng là nhạc sĩ, nhà văn cấp đại đội. Nhiều nhà văn quân đội xuất hiện và trưởng thành từ cái nôi văn hóa quần chúng. Khi vào lính, điều họ nghĩ đến đầu tiên, có lẽ không phải là việc viết lách mà phải đánh giặc đã. Nước còn giặc, còn đi đánh giặc/ Chiến trường giục giã bước hành quân. Lẽ sống cao nhất, đẹp nhất của những thanh niên thời chiến tranh là thế. Hào khí dân tộc cùng với hiện thực bi tráng đẫm chất huyền thoại của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh yêu nước đã cộng hưởng mạnh mẽ vào tâm hồn và khơi dậy khả năng sáng tạo văn chương của người chiến sĩ. Thêm vào đó là môi trường sinh hoạt văn hóa tập thể trong bộ đội như thi đua sáng tác biểu diễn văn nghệ quần chúng theo kiểu cây nhà lá vườn và làm báo tường đã góp phần kích thích cán bộ, chiến sĩ viết và hát. Đầu tiên cũng chỉ là lính viết cho lính đọc, lính hát cho lính nghe mà thôi. Năng khiếu, tài năng được phát lộ, phát hiện và chăm sóc vun xới bằng việc tạo thời gian, bố trí công việc phù hợp cho các cây bút trẻ, sau đó cho đi trại viết, đi học ở các trường chuyên môn. Con đường từ "nhà văn đại đội" trở thành "nhà văn quốc gia" của không ít cây bút chiến sĩ là như thế. Dẫn dụ tôi nêu sau đây chưa đủ nhưng là minh chứng rõ ràng cho điều đó qua trường hợp các nhà văn, nhà thơ: Hữu Loan, Minh Huệ, Trần Hữu Thung, Xuân Hoàng, Hồ Phương... thời chống Pháp; Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Lê Đình Cánh, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tạo... thời chống Mỹ và Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Quốc Trung, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Anh Nông, Mai Nam Thắng, Nguyễn Đình Tú, Phùng Văn Khai, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Xuân Thủy, Nguyễn Mạnh Hùng sau năm 1975... Đấy là chưa kể việc quân đội còn chiêu hiền đãi sĩ, chọn những cây bút trẻ có khả năng văn chương từ dân sự vào như Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thúy, Đoàn Văn Mật, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Đăng Khoa... Thời nào cũng thế, bộ đội cần những tác phẩm giàu chất lính để họ thấy được trong đó hình bóng tâm hồn mình, cảm nhận được cuộc sống từ quá khứ đến hiện tại và tương lai với bề rộng và chiều sâu mới mẻ từ những trang viết của nhà văn. Bây giờ, hình như văn học nước nhà đang thiếu những tác phẩm về người lính, cho người lính, vì người lính đúng nghĩa của nó cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Văn học là một bộ phận rất quan trọng của văn hóa. Chính vì thế, khi nói tới văn hóa quân sự không thể không quan tâm đến văn học cho người lính. Đừng bao giờ nghĩ rằng, trong xã hội hiện nay, khi tính thực dụng đang chế áp lối nghĩ, lối sống của không ít người, nhất là lớp trẻ, bộ đội ta thờ ơ hờ hững với văn học. Trong ngày nghỉ, giờ nghỉ, bộ đội vẫn rất cần những cái hay, cái đẹp để đọc, để xem. Cái cần nói là hiện nay còn quá ít những người tâm huyết viết cho người lính và những tác phẩm hay về họ thì đang vô cùng ít ỏi. Tôi đã được đến nhiều đơn vị, thấy trên tủ sách của bộ đội thật hiếm hoi những tác phẩm văn học cần đọc, nên đọc. Ngay đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội không phải trung đội, đại đội nào cũng có. Cán bộ, chiến sĩ ta không chỉ được giáo dục bồi dưỡng ý chí và nhân cách bằng những bài lên lớp chính trị mà thường xuyên phải bằng những hình tượng văn học nghệ thuật hấp dẫn nhẹ nhàng. Vì thế, xây dựng văn hóa lành mạnh khỏe khoắn trong quân đội cũng là xây dựng nền văn học trong sạch đẹp đẽ với người lính. Khi cái tốt, cái hay nhiều hơn thì cái xấu, cái dở ít có cơ hội lấn tràn. Bộ đội vẫn rất cần những giá sách, tủ sách văn học, rất nên có những cuộc bình văn chương bắt đầu từ các buổi sinh hoạt chi đoàn, đại đội cũng như đừng bao giờ khép lại những đôi mắt xanh để phát hiện ra những năng khiếu sáng tác thơ văn của chiến sĩ và tạo điều kiện cho họ phát triển. Thời nào cũng có những "nhà văn đại đội" đấy, các bạn nhỉ? NGUYỄN HỮU QUÝ |






0 nhận xét:
Đăng nhận xét